A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Từ 1/7/20121, thực hiện thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân

Mã số định danh cá nhân cũng chính là số thẻ Căn cước công dân (12 số). Theo đó, mã số định danh gắn liền với cá nhân từ khi sinh ra cho đến khi cá nhân chết, không thay đổi và không trùng lặp với số định danh người khác. Mã số định danh cá nhân được xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư dùng để kết nối, cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin của công dân.

Công dân được cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an cấp mã số định danh khi đăng ký khai sinh; khi làm căn cước công dân với trường hợp đã đăng ký khai sinh, đăng ký  thường trú nhưng chưa được cấp số định danh cá nhân.

Mã số định danh cá nhân là dãy số tự nhiên gồm 12 số, có cấu trúc gồm 6 số là mã thế kỷ sinh, mã giới tính, mã năm sinh của công dân, mã tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc mã quốc gia nơi công dân đăng ký khai sinh và 6 số là khoảng số ngẫu nhiên. Các mã số định danh cá nhân được bảo mật hoàn toàn.

Khi mã số định danh cá nhân được cấp cho toàn bộ dân cư thì sử dụng mã số định danh cá nhân thay cho mã số thuế. Như vậy, theo quy định này, công dân có thể dùng mã số định danh cá nhân thay cho mã số thuế để thực hiện một số thủ tục như  mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, khai thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế...

Thực hiện Luật Cư trú năm 2020, Luật Căn cước công dân năm 2014, Nghị định số 137/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân, Nghị định số 37/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 137 và các Thông tư, văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Cư trú và Luật Căn cước công dân của Bộ Công an; đến nay, Bộ Công an đã hoàn thành việc xác lập số định danh cá nhân cho công dân Việt Nam đã được thu thập thông tin dân cư.

Căn cứ Điều 5, Thông tư số 59/2021/TT-BCA ngày 15/5/2021 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành Luật Căn cước công dân và Nghị định số 137 của Chính phủ, kể từ ngày 01/7/2021 triển khai thực hiện thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Tại Thái Bình, Công an tỉnh đã chỉ đạo Phòng PC06 - Công an tỉnh, Công an cấp huyện và Công an cấp xã thông báo số định danh cá nhân và các thông tin của công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cho toàn bộ công dân chưa được cấp thẻ Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân 12 số, Giấy khai sinh chưa có thông tin số định danh cá nhân và công dân chưa được thu nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân trên địa bàn. Đối với công dân đã được cấp thẻ Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân 12 số, Giấy khai sinh có thông tin số định danh cá nhân thì số định danh cá nhân của công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chính là số Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân 12 số và định danh cá nhân trong Giấy khai sinh.

Trường hợp công dân đã có các loại giấy tờ này nhưng vẫn yêu cầu được thông báo về số định danh cá nhân và thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì Công an cấp xã nơi công dân đãng ký thường trú có trách nhiệm thông báo băng văn bản hợp phỊp của công dân theo quy định. Theo đó, Công dân có thể yêu cầu cơ quan Công an cung cấp số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư bằng các hình thức trực tiếp hoặc thông qua người đại diện hợp pháp đến Công an xã nơi công dân đăng ký thường trú để yêu cầu cung cấp thông tin; hoặc yêu cầu cung cấp thông tin qua Cổng Thông tin điện tử Công an tỉnh, Cổng Thông tin điện tử tỉnh.


Tác giả: Hà Trần
Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 9 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
Tin tức mới
Thăm dò ý kiến
Theo bạn thông tin nội dung của website thế nào?
Thống kê truy cập
Hôm nay : 590
Hôm qua : 2.576
Tháng 02 : 12.984
Năm 2023 : 47.142